TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều
208. Trách nhiệm các cơ quan quản lý nhà nước
1. Chính
phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp.
2. Các
bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc thực hiện nhiệm vụ
được phân công trong
quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp.
3. Trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công, các bộ, cơ quan ngang bộ chỉ đạo các
cơ quan chuyên môn định kỳ gửi cho Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp
có trụ sở chính các thông tin sau đây:
a) Thông
tin về giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ
hành nghề, giấy chứng nhận hoặc văn bản chấp thuận về điều kiện kinh
doanh đã cấp cho doanh nghiệp và quyết định xử phạt đối với
hành vi vi phạm hành chính của doanh nghiệp;
b) Thông
tin về tình hình hoạt động và nộp thuế của doanh nghiệp từ báo cáo thuế của
doanh nghiệp;
c) Phối
hợp, chia sẻ thông tin về tình
hình hoạt động doanh nghiệp để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
4.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý
nhà nước đối với doanh nghiệp trong
phạm vi địa phương.
5.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công chịu trách nhiệm chỉ
đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc và Ủy
ban nhân dân cấp huyện định kỳ gửi cho Cơ quan đăng
ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính các thông tin theo quy
định tại khoản 2 Điều này.
6. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
209. Cơ quan đăng ký kinh
doanh
1. Cơ
quan đăng ký kinh doanh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Giải
quyết việc đăng ký doanh nghiệp và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo
quy định của pháp luật;
b) Phối
hợp xây dựng, quản lý Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; cung
cấp thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có yêu cầu theo quy định
của pháp luật;
c) Yêu
cầu doanh nghiệp báo cáo về việc tuân thủ các quy định của Luật này khi xét thấy
cần thiết; đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ báo cáo của doanh nghiệp;
d) Trực
tiếp hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp theo
những nội dung trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp;
đ) Chịu
trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, không chịu trách
nhiệm về những vi phạm của doanh nghiệp xảy ra trước và sau đăng ký doanh
nghiệp;
e) Xử lý
vi phạm các quy định về đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thu
hồi Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp và yêu cầu doanh nghiệp làm thủ tục giải thể theo quy
định của Luật này;
g) Thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này và quy định khác
của pháp luật có liên quan.
2. Chính
phủ quy định hệ thống tổ chức Cơ quan đăng ký kinh doanh.
Điều
210. Xử lý vi phạm
1. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất và
mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính, trường hợp gây
thiệt hại thì phải bồi thường, cá nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của pháp luật.
2. Chính
phủ quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm
những quy định của Luật này.
Điều
211. Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
1. Doanh
nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong các trường hợp sau
đây:
a) Nội
dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo;
b) Doanh
nghiệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 18 của
Luật này thành lập;
c) Doanh
nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký
kinh doanh và cơ quan thuế;
d) Doanh
nghiệp không gửi báo cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 209 của Luật này
đến Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày hết hạn gửi
báo cáo hoặc có yêu cầu bằng văn bản;
đ)
Trường hợp khác theo quyết định của Tòa án.
2. Chính
phủ quy định trình tự, thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp.
Điều
212. Hiệu lực thi hành
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015. Luật doanh nghiệp số
60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 170 của
Luật doanh nghiệp số 37/2013/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2013 hết hiệu lực thi hành
kể từ ngày Luật này có hiệu lực, trừ các trường hợp sau đây:
a) Đối
với
công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập trước ngày Luật này có hiệu lực, thời hạn
góp vốn thực hiện theo quy định tại Điều lệ công ty;
b) Các
doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ vốn điều lệ phải thực hiện tái cơ cấu để bảo
đảm tuân thủ đúng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 189 của Luật này trước
ngày 01 tháng 7 năm 2017;
c) Các
công ty không có cổ phần hoặc phần vốn góp do Nhà nước nắm giữ thực hiện góp
vốn, mua cổ phần trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 không phải thực hiện theo quy
định tại Khoản 2 Điều 189 của Luật này nhưng không được tăng tỷ lệ sở hữu
chéo.
2. Hộ
kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên phải đăng ký thành lập
doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này. Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ
thực hiện đăng
ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ.
3. Căn
cứ vào quy định của Luật này, Chính phủ quy định chi tiết việc tổ chức quản lý
và hoạt động của
doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc kết hợp kinh
tế với
quốc
phòng, an ninh.
Điều
213. Quy định chi tiết
Chính
phủ quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật.
Luật
này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp
thứ 8 thông qua ngày 26 tháng
11 năm 2014.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét